NGƯỢC D̉NG

Đào Nguyên

Hằng năm cứ vào ngày 30-4, người Việt khắp nơi ở hải ngoại biểu t́nh, hay làm lễ tưởng niệm ngày quốc hận. Bầu trời mờ đục che khuất dưới ṿm mây xám, trời buồn như chia xẻ những ưu tư, và thông cảm nỗi buồn của người dân Việt tha hương. Ngày 30-4-75 miền Nam sụp đổ, đă đưa dân tộc Việt ở cả hai miền Nam Bắc đến tận cùng nỗi khổ. Nước Việt biến thành địa ngục của trần gian. Ḷng tôi bùi ngùi xúc động, nhớ lại những ǵ đă xăy ra trên quê hương tôi ngày ấy 30-4-1975. 

Bây giờ là tháng 4, tôi xin mượn đề này kể tiếp theo những nỗi thống khổ của người miền Nam Việt nam sau 75, để ôn cố tri tân. Sau tháng tư đen năm 75, con dân nước Việt đă ngậm ngùi thương tiếc một linh hồn Việt nam Tự do, và v́ Việt nam ngày nay đang măi quằn quại trong lao cùm của cộng sản. Nhớ lại miền Nam từ những biến cố này, đến biến cố khác, đă đưa đến tháng tư sụp đổ, mà lịch sử Việt nam chưa ai viết hết những chi tiết về những biến cố đó chính xác, v́ có thể không ai nh́n được toàn diện vấn đề. Nhưng người Mỹ đă thấy, đă viết về một số người thời đại của lịch sử v́ họ đă lung lạc hay cầm cố vận mạng miền Nam nước Việt trong thời tổng thống Johnson, Nixon. Những ǵ xăy ra trên quê hương tôi ở đầu thập niên 60: 63 đổ ông Ngô đ́nh Diệm, 64 đổ Dương văn Minh, 65 đổ Nguyễn Khánh, rồi th́ Mỹ đổ quân vào Việt nam, và những thập niên kế tiếp. 

Chiến tranh Việt nam càng ngày càng leo thang, những người lính hay đúng hơn là những người thanh niên miền Nam cùng tuổi tôi và lớn hơn đă xông ra chiến trường chiến đấu để giữ ǵn miền đất Tự Do, và cái chết mau hơn, và nhiều hơn. Coi lại film Asia, “Những Người Lính,” và cuộc chiến Iraq trên tivi, tôi nhớ Việt nam, nhớ quê hương. Bây giờ sống ở Mỹ, nhưng tôi cũng không biết tại sao tôi nhớ Việt nam? Nhiều lúc tôi hỏi chính ḿnh, tôi nhớ quá, nhớ con đường làng, nhớ chợ quê. Nhớ ngày tết, nhớ ḍng sông! Ở đó có quá nhiều kỷ niệm, dù nhiều đau thương đến với gia đ́nh tôi. Đă 17 năm xa xứ tôi chưa về thăm lại một lần. Việt nam là quê hương tôi, là mồ mả cha ông, là bà con thân tộc, c̣n với người Mỹ, Việt nam vẫn măi măi là vết thương không bao giờ lành. Nhưng sau 30 năm, tất cả các cuộc chiến xăy ra, người Mỹ đă đem cuộc chiến Việt nam ra mổ xẻ, phân tích và nghiên cứu.

Tôi không phải là nhà văn, nhà báo, cũng không làm chính trị, cán bộ ngay cả là lính trước 75. Tôi là một giáo viên. Nhiệm vụ của tôi là dạy dổ con em yêu gia đ́nh, yêu tổ quốc Việt nam, và giảng giải đời sống khoa học thực dụng chung quanh các em. Tôi chỉ mong làm tṛn bổn phận một công dân trong xă hội, phục vụ nhân quần cho tṛn trách nhiệm của ḿnh. Tôi không tham gia chính trị, tôi cũng không cần phải liên hệ với chính trị đảng phái. Tôi sinh ra khi hiệp định Geneve kư kết và lớn lên ở Miền Nam; tôi được thừa hưởng mọi điều tự do tự nhiên không phân vân, hay thắc mắc. Từ sau Cộng sản giết cha, hai bác tôi bị bắt lên núi rồi mất tích, tôi thường nh́n cộng sản như một loại khủng bố tàn bạo, khi c̣n hai miền Nam Bắc đối nghịch nhau.

Sau 29-4-1975, tôi trở về sống ở làng quê với Cộng sản, tôi thấy rơ bộ mặt thật của cộng sản là khủng bố, độc tài và gian ác. Con người dưới chế độ cộng sản luôn luôn sợ hăi, và đói nghèo. Đảng cộng sản Việt nam là hiện thân của lừa bịp, láo khoét và gian ác. Họ có khoảng chừng hai triệu người nhưng đă thống trị và đô hộ cả 80 triệu người khác dưới một chính sách ác nghiệt. Họ là lủ quỹ hay là lủ ác ma.

Nhiều người nói rằng chuyện đă xưa rồi, hăy quên, nhớ làm ǵ, nhưng tôi vẫn cứ nhớ. Tôi muốn được kể cho con cháu tôi biết rằng tại sao chúng ta phải tha phương cầu thực. Tại sao các con là người Việt nam phải sống rải rác các nơi trên thế giới từ nước này đến nước khác sau ngày 30-4-75. Nh́n lại được nhau là nhờ mớ tóc đen, da vàng mũi tẹt. Gặp nhau hỏi thăm rằng anh là người Á châu? Thậm chí có người không c̣n muốn nh́n ḿnh là người Việt nam. Vậy th́ tôi xin viết ra đây những ǵ có thật bằng mắt thấy tai nghe, để con cháu tôi hănh diện được làm người Việt nam mà không quay mặt phủ nhận gốc gác của ḿnh. 

Người Việt nam ra đi là người Việt nam đă hứng chịu chất chồng những tai ương do cộng sản đổ lên đầu sau ngày chế độ tự do miền Nam sụp đổ. Đến bây giờ sau 30 năm Việt nam vẫn chưa có Tự do, không có quyền làm người, và vẫn măi đói nghèo.

Tôi đă chứng kiến tất cả sự bạo tàn, áp chế của một chế độ đầy quyền lực sắt máu, và độc tài để cai trị nhân dân. Mạng sống của con người rẻ mạt như cỏ rác, họ muốn giết, nửa đêm gọi cửa, dẫn ra bải cát, hay triền núi bắn bỏ. Năm ba hôm sau có ai thấy được, thân nhân lượm xác về chôn. Đang đêm du kích dẫn cả bầy đến nhà, ùa vào đánh người mà có ai thèm điều tra, hay bảo vệ đâu. Ai kêu oan ta thán, chưởi bới là bị ghép phản động đưa đi tù. Nhiều danh từ mới mà người Nam chúng tôi chưa nghe thấy bao giờ như: “Bọn ác ôn, bọn phản động hiện hành, giải phóng, cách mạng, thành phần bóc lột, tư sản mại bản, ngụy quân, ngụy quyền, hồ hởi phấn khởi, cải tạo tư tưởng, cải tạo lao động, cách mạng văn hóa, cách mạng nông nghiệp v.v...” Tất cả những từ ngữ thật kêu này dùng để che lấp sự ngược đăi, đói nghèo, tù tội, và cướp bóc. Nhiều từ ngữ được đảo ngược lại, cũng như chính sách cai trị của họ với chính sách tự do ngày trước. 

Quê tôi giải phóng bao người đói
Cả vạn khối người bị cùm gông
Bỏ tù được gọi là cải tạo
Kinh tế mới đón người khắp phố đông

Trời Nam tan tóc loài quỹ lộng

Tiếng khóc lời than ngập non sông

Liền sau ngày 30-4-75 khi Cộng sản tiếp thu Đà Nẳng, việc đầu tiên vô nhân đạo là vào bệnh viện Duy Tân, quân du kích, và bộ đội đuổi hết những thương binh, phế binh của miền Nam ra khỏi bệnh viện. Những thương bệnh binh c̣n đau, vết thương chưa lành. Những chiếc xe lăn của họ bị cướp đoạt, những người lính mù ḷa cỏng trên vai người lính cụt chân. Những thương bệnh binh c̣n mang bọc ruột bên ngoài được đồng đội què quặt d́u dắt. Họ vất vưởng trên đường phố. 

Một cuộc giải phóng đă đưa mấy chục triệu người dân Nam Việt nam tới chổ đói rét khốn cùng, biến miền Nam nước Việt thành một địa ngục của trần gian, một nơi chốn đen tối nhất của xă hội loài người trên thế giới. Thế giới của cộng sản, thế giới chết chóc, đói nghèo và tù tội.

Khoảng 200 ngàn người thanh niên, đàn ông v́ tham gia bảo vệ miền Nam nay trở thành tội phạm. Họ trở nên những tên tù. Một thứ tù được bắt đi bằng những lời lừa bịp từ chính thể gọi là Việt nam Dân Chủ Cộng hoà, Độc lập Tự do Hạnh phúc của cộng sản Việt nam. Họ gọi là ḥa giải ḥa hợp và đưa những người của chính quyền cũ đi học tập chính sách 10-15 ngày tùy theo cấp bực. Một sự lừa bịp trắng trợn có cần ǵ chứng minh v́ nó rơ ràng trước mặt, họ thành những tên tù, đúng hơn là nô dịch không có án. Có người làm nô dịch đến chết v́ đói v́ bịnh hay lao khổ. Con người không c̣n là con người mà là con vật người. 

Người tù ở trong một nhà tù nhỏ, và người dân ở trong nhà tù lớn hơn, nhà tù cộng sản. Mọi người sống trong bóng tối cộng sản, không có được nguồn tin tức nào ở thế giới bên ngoài. Phố xá xác xơ, nghèo đói chết chóc vất vưởng chung quanh. Mọi người hoảng sợ lẫn nhau, v́ mạng lưới công an tổ chức cài đặt có hệ thống để theo dơi mọi người, từ trẻ con đến đàn bà đàn ông, anh hàng xóm tới anh bộ đội. Mạng lưới khủng bố đe dọa kinh hoàng. 

Kinh tế hoàn toàn bế tắc, mọi người không có việc làm, ngoại trừ làm ruộng. Lao động là vinh quang, là chủ thuyết làm cho dân nghèo đi để trị của cộng sản. Người dân ăn “sắn hay củ ḿ”, khoai, bo bo, chút ít gạo, có khi nhiều năm trường, con người trở nên xanh xao, bịnh hoạn. Nhiều thương gia, chính khách trước đây từng ủng hộ, họ âm thầm tiếp tế cho cộng sản, giờ hoảng hốt sợ hải, chờ tới phiên ḿnh lên đoạn đầu đài, ân hận th́ đă muộn màng. Đó là trường hợp của những người có học ở miền Nam tham gia Mặt Trận giải phóng miền Nam sau tháng 4-75 chỉ tồn tại ba tháng là bị đạp đổ. Trương như Tảng bỏ chạy, Nguyễn Hửu Thọ, Đoàn văn Toại, Kiều Mộng Thu, Trịnh Đ́nh Thảo, Phạm văn Thảo v.v...bị đá văng ra khỏi cái chính quyền cộng sản một cách thê thảm. Một số bị tù? Người Mỹ như bà Jean Fonda mặc áo bà ba đen, ôm súng AK ủng hộ Hồ chí Minh, ủng hộ cộng sản v́ người Mỹ chưa từng sống dưới sự cai trị tàn bạo của Cộng sản bao giờ.

Mười năm sống với cộng sản, tôi thấy bằng chính mắt, nghe bằng chính tai tôi những tội ác của chế độ cộng sản phi nhân này gây ra. Những điều kinh hoàng về chế độ mà ngày trước 75, tôi sinh ra ở miền Nam, hay bây giờ con tôi lớn lên ở Mỹ, không thể tưởng tượng là có thật. 

Trước năm 75 hằng ngày tôi chứng kiến cảnh chết chóc của những người lính từ hai miền Nam Bắc trên xóm làng quê hương tôi, tuy đau khổ nhưng không khổ bằng sau 75. Sau năm 75 số người chết tương đương với những năm chinh chiến: người tự tử hàng ngày từ miền quê đến thị thành v́ áp bức, v́ đói nghèo, v́ khủng bố. Những người thanh niên, thanh nữ bị chết bởi bắt đi khai hoang vào những bải ḿn, bải cỏ từ bao lâu nay. Hể hở ra như một cái thở dài, ta thán cũng bị theo giỏi là có tư tưởng phản động. Người đói chết trong tù, người đói chết bên đường. Người chết ngoài biển khơi, người chết trên rừng già. Người chết v́ đi tù bị giết, hay bị lao dịch. Người chết v́ vượt biên bị người Miên giết, bị cộng sản bắt được giết, hay bị Thái giết. Người thất chí nói chống đối bị bắt đánh tới chết, người khác bị bỏ tù, nhà tù mở ra như nấm từ thành phố đến Trường sơn. Miền Nam Việt nam trở thành nhà tù hay địa ngục đầy kinh dị, mà tôi, người miền Nam chưa hề tưởng tượng hay nghe nói đến trong lịch sử loài người. Nhớ những năm 78 người vượt biên bị bắt được gọi “Phản quốc” bị bắn tại chổ, thế rồi bây giờ cải tiến thành “Việt kiều yêu nước.”  Đừng nghe những ǵ Việt cộng nói mà hăy nh́n những ǵ việt cộng làm.

Người cộng sản dùng những chiêu bài như “Nước Việt nam là một, người Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể ṃn nhưng chân lư ấy không bao giờ thay đổi.” Hay “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.” Mục đích là muốn chiếm trọn miền Nam để cướp bóc dă man từ tài sản đến nhân mạng bằng nhiều cách, những chiến thuật liên tục nối móc nhau: Thứ nhất đưa đàn ông đi tù làm nô dịch, rồi dân ở thành phố bị cô lập hóa đến đói, thực phẩm không được chuyển mang vào thành phố. Giá cả thực phẩm ở thành phố tăng vọt, trong khi những gia đ́nh Ngụy, nhất là những người đàn bà không có việc làm, họ đem bán tất cả đồ đạc có được như đồ trang sức, áo quần, bàn ghế, tất cả những ǵ có thể được để đổi lấy miếng ăn. Ai đi buôn th́ bị đón bắt tịch thu dọc đường, v́ người đi buôn là có tội, tội lười biếng không lao động. 

Chiến dịch “Ngăn sông, cấm chợ, và lao động là vinh quang,” một chính sách dă man không luật pháp. Luật trên đầu súng, luật rừng của bọn cướp. Dần dà người thành phố v́ đói, đành bỏ phố mà ra đi theo áp lực của chính quyền là đi vào những miền mà Cộng sản gọi là “Kinh tế mới,” để lao động. Một số đàn bà khác bị họ dụ dỗ lừa đảo là đi kinh tế mới để chồng con được tha về, cùng nhau lên núi tạo đời sống mới. Nhưng khi người vợ đi rồi, nhà cửa bị họ lấy bằng cách thu mua rẻ mạt, c̣n chồng con vẫn măi trong tù. Núi non trùng điệp, rừng thiêng nước độc, những người đàn bà tay yếu chân mềm từ trước đến nay, đến đây ít tháng con cái bị bệnh sốt rét hoành hành, đói khát, chết dở sống dở, đành chạy về lại thành phố sống la lết ở dầm cầu, xó chợ qua ngày. Đôi khi công an bắt được đưa đi tù, bỏ đàn con đói khát, khốn khổ bơ vơ. Trẻ con làm đủ thứ nghề để sống, con gái làm điếm, con trai ma cô, trộm cướp du đảng. Tai họa đến th́ phải đi tù. Có khi một gia đ́nh cha tù v́ làm cho ngụy, mẹ tù v́ cư ngụ bất hợp pháp hay chống đối, c̣n con cái v́ làm điếm, hay trộm cướp đi tù . Ai thấu cho nỗi niềm đau của dân chúng miền Nam sau thời 75.

Số đàn bà nào ù ĺ ở lại thành phố th́ sa ngay vào chiến dịch “đồng hoá,” tức là những nhà đàn bà có chồng đi cải tạo, được chính quyền gởi cán bộ, bộ đội tới ở trong nhà. Họ dùng bằng được, mọi thủ đoạn nhặt khoan để họ cướp vợ. Làm sao họ cướp được của rồi, họ cướp vợ của người miền Nam. Làm sao để người miền Nam tan tóc, đổ nát, th́ họ mới vui. Biết bao người đàn bà lấy cán bộ, họ đă tài chủ hóa, sở hửu hoá những nhà này, vợ này thành của họ. Những người lính ngụy hay cán bộ chính quyền ngụy tŕnh diện học tập 10 ngày, nay trở thành nô dịch vô hạn định. Làm nô dịch không án tù, không ai biết được số phận của ḿnh. Những đứa con ngụy không được tiếp tục theo học tiếp sau trung học. 

Cộng sản bài trừ triệt để những người của thế hệ sau, liên hệ với người chính quyền cũ đến ba đời. Những đứa con ngụy chỉ c̣n cách cắt đá, làm đường sắt, làm nhân công, và không bao giờ có cơ hội ngóc đầu nỗi. Một nạn kỳ thị khủng khiếp phủ lên đầu con dân miền Nam bằng cái “hộ khẩu” mà có người nói lái là hậu khổ, chưa từng có trên thế gian này, ngoại trừ người Việt nam. 

Những chiến dịch khủng bố tinh thần xăy ra liên tục từ 1-5-1975, cộng sản quét sạch văn hoá tự do bằng cách họ tịch thu sách báo, tạp chí đặc san miền Nam mà họ gọi là đồi trụy. Bắt đầu họ tổ chức những đội thanh niên tiền phong đi tịch thu ở từng nhà một, tất cả các lọai sách báo miền Nam. Cấm hát tất cả loại nhạc miền Nam gọi là nhạc vàng, làm con người yếu hèn. Ai cất dấu bắt được, sẽ bị đi tù. Nhà tù nhan nhản trên miền núi, v́ ở đó họ đang cần công nhân nô lệ làm nô dịch để sản xuất cung phụng cho 2 triệu cán bộ và quân đội. Những bản nhạc chém giết như “Giải phóng miền Nam, Tiếng chày trên sóc Mâm bô, Tiếng đàn ta lư, Ai yêu bác Hồ...” toàn là lời nhạc chém giết như ,“Cầm gươm ôm súng xông tới...” hát theo kiểu Tàu éo éo chói tai. Chiến dịch bài trừ này kéo dài theo thời gian từ 1-5-75 cho đến năm 1982 th́ nhẹ bớt, và nỗ lực ráo riết nhất là 1981 cho đến khi thật sự không c̣n sách báo nữa mới thôi. 

Những sách báo miền Nam được chia làm năm loại: được đăng tải trên các báo cộng sản như Tạp chí Cộng sản, Tin sáng, Quân đội nhân dân, Sài g̣n giải phóng vv...

Loại A là loại sách chống cộng và ca tụng chính thể tự do của Mỹ như sách cuả Nguyễn mạnh Côn, Duyên Anh, Nhất Linh..vv... sách dịch gồm có của những tác giả André Gide, Pearl Buck, Pasternak v.v..

Loại B là loại sách khêu gợi, đầu độc, cộng sản gọi là văn hóa đồi trụy như của Miller, Kazan, Francoise Sagan, Trần thanh Hiệp, Thanh tâm Tuyền vv...

Loại C là loại sách t́nh cảm, nhạc vàng, gồm những tác giả như Bàng bá Lân, Mộng Tuyết, Tuệ Nga, Eric Sagan, S. Maugham, R. Nathan, A. Dumas, Lamartine vv..

Loại D là loại sách về tôn giáo và triết học. Trong loại này được chấp nhận một số ít v́ có vài loại sách chống Mỹ. 

Loại E loại phản chiến và khoa học kỹ thuật. Loại sách này nếu bắt được tạm thời tha.

Loại F là loại gồm sách đấu tranh, sáng tạo hay nghệ thuật.

Số sách tịch thu được nhiều nhất là 1981, thành phố Sài g̣n khoảng 60 tấn, ba tỉnh B́nh Trị Thiên khoảng 50 tấn, tỉnh Quảng Nam 10 tấn. Cùng năm này công an lùng bắt và nhiều người c̣n giữ sách đă bị ra toà án nhân dân và bị đi lao dịch.

Trên mặt trận kinh tế, họ đổi tiền ba lần để bần cùng hoá người dân miền Nam.

Lần thứ nhất ngày 22-9-75 với tỉ lệ là 1 đồng mới bằng 500 đồng tiền cũ giới hạn 200 đồng cho mỗi hộ. Trong đợt này họ phát hành 8 loại giấy bạc: 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng và 50 đồng. Lần này khó khăn nhất cho dân miền Nam là đồng bạc 50 đồng v́ không có tiền thối lại. 

Lần thứ hai ngày 3-5-78 đổi tiền cả hai miền Nam Bắc, miền Bắc 1 đồng đổi 1 đồng thống nhất, nhưng 1 đồng miền Nam bằng 8 hào thống nhất. Đợt này họ phát hành thêm 5xu, 10 xu, 20 xu, 50 xu, 1 đồng, 2 đồng, 5 đồng, 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, và 100 đồng. 

Lần thứ ba đổi tiền ngày 14-9-85. Một lần nữa họ đổi tiền theo tỷ giá 10 đồng tiền cũ được 1 đồng tiền mới. Họ phát hành tiền loại 2 đồng, 10 đồng, 30 đồng, 50 đồng,100 đồng. 

Năm 1978 là năm mà kinh tế miền Nam khủng hoảng nhất, dân miền Nam đói rét khủng khiếp. Người miền Nam từ thiên đường rơi xuống địa ngục, đói nghèo th́ ta thán, bỏ chạy, c̣n nhân dân miền Bắc th́ chịu đựng những cơn đói hành hạ đă bao nhiêu chục năm trường, họ trở nên ĺ hơn.

Sau những lần đổi tiền này mục đích làm nhỏ đi đồng tiền của miền Nam Việt Nam, nghĩa là bần cùng hóa nhân dân miền Nam để cai trị. Ba lần như vậy, người miền Nam không c̣n ǵ hết, từ nghèo đến đói và tóc tan. Đồng thời cùng một lúc với các chiến dịch đổi tiền, tịch thu sách báo, họ đánh tư sản mại bản nhiều lần. Họ kiểm kê tài sản hàng hóa những thương gia miền Nam, từ thành thị đến thôn quê, rồi đưa nhóm người này đi tù. Họ lấy tất cả nhà cửa, hàng hóa, vàng bạc, đưa thương gia đi lao dịch, và vợ con đi vào kinh tế mới để sản xuất. Núi rừng thâm sơn gió chướng, bệnh hoạn giết chết bao người!

Đầu năm 1978, chiến dịch đuổi người Tàu ra khỏi nước, bằng cách thu nộp mỗi người 10-20 lượng vàng đóng tàu bè ra đi. Người muốn đi ngoại quốc phải kư giao nhà cửa cho cán bộ quản lư hay đúng ra là h́nh thức ăn cướp hay hối lộ. Rồi th́ họ làm hỏng máy và cho những chiếc tàu không an toàn ra khơi trong ngày gió băo để người chết hàng loạt trên biển Đông. Có những tàu quá tải nên vừa ra khơi là ch́m, miễn sao cán bộ cộng sản lấy được tiền, được vàng bạc nhà của. Số cán bộ làm giàu rất mau lẹ trên xương máu người đồng chủng không thương tiếc, không c̣n có chút cảm giác của con người. Đó là loại người cộng sản, loại người lạnh máu. 

Ở nông thôn họ tịch thu ruộng đất của dân chúng thành lập hợp tác xă, thành của cải nhà nước hay cán bộ, và dân chúng đi làm thuê tính công hàng ngày. Cộng sản cấm buôn thúng bán bưng, họ đi vào hợp tác xă mua bán, và dẹp chợ, v́ mọi người phải đi lao động. Mỗi ngày làm 8 tiếng có được từ 6 đến 10 điểm, hàng năm đóng thuế thân là 360 điểm cho xă hội chủ nghĩa. “Lao động là Vinh quang,” câu khẩu hiệu, châm ngôn ở đầu môi mép miệng của bọn người cộng sản. Mọi người dân từ thành thị đến thôn quê kêu trời không thấu, ngữa mặt thấy máu rơi, tội tù và đói khổ. 

Cộng sản giết người bằng những thủ đoạn âm thầm, thâm độc mà người ngoài mới nh́n vào cứ tưởng là khoan hồng. Thật ra những người miền Nam có tội t́nh ǵ? Tội bảo vệ tự do, tội chống lại sự xâm lăng của miền Bắc, tội bảo vệ tài sản ḿnh ư ? Dưới chế độ cộng sản, con người không c̣n quyền làm người, ra khỏi thôn là phải xin phép công an xă, đám giổ đám cúng phải xin phép v́ luật không tụ họp quá hai người. Nếu chính quyền địa phương không cho phép th́ sẽ bị bắt đi tù. Ban đêm tụi công an mật vụ đi ŕnh từng nhà nghe thử có ai nói lời bất măn không. Hằng ngày có ai đến nhà, họ nói ǵ, ai ăn ngon mặc đẹp mà khai nghèo, th́ sẽ phải đi tù v́ khai báo không thật thà ! Không được đi lại, không được nói, không được ăn, không được đi chùa đi nhà thờ, tất cả là không. Không c̣n ǵ nữa cả dưới chế độ cộng sản. Vô sản, vô quyền mới đúng nghĩa của chính sách của cộng sản Việt nam. Tất cả đời sống con người bị kiểm soát kiềm kẹp chặt chẽ. Đi đến đâu là có mật vụ theo dơi. Con người dưới chế độ cộng sản là ở trong một nhà tù khổng lồ vô cùng khiếp sợ. 

Việt nam, nơi tôi sinh ra, lớn lên và tôi đă t́m đường bỏ chạy, không những riêng ǵ tôi, mà hàng triệu người, ai chạy được th́ chạy, t́m sự sống trong cái chết, có người nói rằng, cột đèn miền Nam nếu chạy được cũng muốn chạy huống hồ chi con người. Ra đi để các con tôi có đời sống tự do, có chút không khí tự do để hít thở, để sống và để làm lại con người. Hàng triệu người bỏ trốn, từ bỏ cái xă hội chủ nghĩa, từ bỏ thiên đường cộng sản, dù phải chết trên biển cả hay trong rừng già.

Trên chuyến hải hành đầy gian khổ, lênh đênh trên biển khơi, đói khát với giông băo hăi hùng, cái giá tự do quá đắt với người Việt chúng tôi. Một phần ba số người ra đi chết trên biển. Đến bến bờ tự do, con tôi, gia đ́nh tôi có được tự do, th́ chúng tôi phải đương đầu với những khó khăn về ngôn ngữ, thời tiết, và văn hóa. Dù ǵ đi nữa, th́ con cái chúng tôi c̣n có được chút không khí tự do để thở và hy vọng ngày mai. Hy vọng ngày tự do sẽ đến với dân tộc Việt nam chúng tôi sớm hơn. 

Thế giới bây giờ đă thấy được bộ mặt thật của cộng sản Việt nam, ông Hồ chí Minh không c̣n là thần tượng của bà Jean Fonda và những người phản chiến nước ngoài nữa. Dù cộng sản Việt nam bưng bít thế nào đi nữa, láo khoét măi với thế giới loài người bên ngoài, để đày đọa người dân trong nước, th́ bây giờ cũng không c̣n dấu diếm được nữa. Thế giới của những nhà độc tài đă lần lần bị thoái hóa, và bị tiêu diệt bởi ánh sáng văn minh tiến bộ bên ngoài hay chính nó. Phải chăng tôi đang hy vọng ảo, là ánh sáng sẽ có ở cuối đường hầm, nhưng dù ǵ th́ tôi vẫn tin và hy vọng. Tất cả những nhà độc tài đă từ từ triệt tiêu v́ lạc hậu và vô nhân đạo, và ngày ấy sẽ đến với Việt Nam tôi. Tự do sẽ đến để cho những người bà con tôi, thân nhân tôi, dù là con cái của đời sau, họ cũng có được chút không khí tự do, ánh sáng tự do, để hít thở, và để có được quyền sống, quyền làm người như bao người khác trên thế giới này.

Đào Nguyên

 

Trở lại trang chánh